Tác giả:

 

Mr. Jake Brunner            
Programme Coordinator

E-mail: jake.brunner@iucn.org

Chứng nhận nuôi tôm sinh thái, một cách tiếp cận mới với Chi trả dịch vụ môi trường rừng

Rừng ngập măn Cà Mau chiếm ½ tổng diện tích rừng ngập măn Việt Nam, đồng thời Cà Mau cũng là tỉnh chiếm ½ tổng diện tích nuôi trồng và ¼ tổng sản lượng tôm của cả nước. Xuất khẩu tôm của Việt Nam thu về 2 tỷ USD mỗi năm và là một trong các sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Tuy vậy nuôi tôm cũng là một trong các nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn ở Việt Nam, nơi có đường bờ biển dài, nằm ở độ cao thấp với dân cư tập trung đông, dễ bị thiệt hại nặng trước tác động của bão nhiệt đới và nước biển dâng. Vi vậy sự phát triển bền vừng nghề nuôi tôm và bảo tồn rừng ngập mặn đều nằm trong những ưu tiên quốc gia.

Để góp phần giải quyết những vấn đề đối lập này một cách hài hòa, IUCN và Tổ chức phát triển Hà Lan SNV đang thực hiện một dự án ở tỉnh Cà Mau nhằm giúp người dân nuôi tôm được nhận các chứng chỉ tôm sinh thái. Đây là 1 dự án 4 năm được tài trợ bởi Bộ Môi trường, bảo tồn thiên nhiên và an toàn hạt nhân CHLB Đức (BMU), mục tiêu giúp tạo vị thế bền vững hơn cho ngành nuôi tôm, đồng thời tăng cường sức chống chịu của khu vực bờ biển trước biến đối khí hậu.

Dự án hoạt động trên diện tích 12.500 Ha của Ban quản lý rừng phòng hộ Nhưng Miên, là khu vực sinh sống và canh tác của khoảng 2.600 hộ nuôi tôm. Người dân trong khu vực sử dụng mô hình canh tác kết hợp tôm và rừng ngập mặn, với mỗi hộ dân được giao từ 3 đến 5 hecta rừng, theo quy định ban hành năm 2006 của chính phủ, rừng ngập mặn phải chiếm ít nhất 60% diện tích. Với một mô hình nuôi tôm quảng canh, các ao tôm được liên kết với nhau qua một hệ thống dẫn nước và cửa cống. Cứ mỗi nửa tháng, vào kì nước triều cao, cửa cống được mở ra lấy nước, đồng thời thu hút thêm cá và ấu trùng tôm. Khi triều thấp, của cống được mở trong khoảng 4-5 đêm, tôm trưởng thành bơi ra và được thu hoạch bằng túi lưới.

Mô hình này có một số đặc trưng:

  • Mật độ thả tôm giống và năng suất thấp: Năng suất khoảng 300kg/1 hecta/ năm, so với 10.000kg/ 1hecta/ năm của nuôi công nghiệp.
  • Sản phẩm đa dạng: tôm bạc, đất, cua, cá, ngêu, sò chiếm khoảng 30% thu nhập trong khi chỉ tốn khoảng 13% chi phí.
  • Chi phí bỏ ra thấp: Chỉ phí chính là con tôm giống mua tại các trại ấp địa phương, không cho ăn, không hóa chất xử lý, không có kháng sinh.
  • Rủi ro mất mùa thấp: các trại nuôi tôm ở Ngọc Hiển đã không bị ảnh hưởng trong khi dịch bệnh gây thiệt hại nặng khu vực nuôi tôm công nghiệp vào năm 2012.

Mô hình này không chỉ ít bị ảnh hưởng trước các biến động của thị trường và dịch bệnh, mà còn rất ổn định và cho thu nhập cao. Một nghiên cứu của GIZ kết hợp với SNV tiến hành vào năm nay (2013) đã chỉ ra rằng tổng thu nhập của mô hình tôm – rừng ngập mặn là 2.142 USD/ hecta / năm, cao gấp 2 lần hình thức nuôi tôm truyền thống, hay nuôi tôm kết hợp trồng lúa không có rừng ngập mặn (đạt 1.000 đến 1.300 USD/ hecta/ năm)

Với phương thức nuôi tôm hoàn toàn thiên nhiên, sản phẩm tôm rừng Cà Mau có thể được chứng nhận sinh thái, điều này giúp giải quyết vấn đề các yêu cầu ngày càng cao của quốc tế đối với phương thức nuôi tôm thân thiện với môi trường, cùng với các lo ngại về an toàn thực phẩm, giúp sản phẩm nhận được giá cao hơn trên thị trường.

Dự án của IUCN và SNV được xây dựng trên cơ sở 1 dự án 10 năm tài trợ bởi Thụy Sỹ hỗ trợ nuôi tôm sinh thái trên địa bàn Ngọc Hiển và Năm Căn. Các hộ nuôi tôm được thanh tra bởi IMO – Viện thị trường sinh thái, dựa trên tiêu chuẩn Natural Land cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào Coop, chuỗi siêu thị lớn thứ 2 tại Thụy Sỹ. Hiện tại, chính quyền tỉnh Cà Mau muốn mở rộng việc chứng nhận tôm sinh thái lên toàn bộ diện tich 20.000 hecta nuôi tôm kết hợp trồng rừng vào năm 2020. Mục tiêu là xây dựng một “vùng bờ biển sinh thái” vừa sản xuất tôm được chứng nhận với giá trị cao, vừa bảo vệ trước tác động của nước biển dâng và thiên tai ngày càng mạnh lên. Theo đó, mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rừng vừa là một cách thích ứng với biến đổi khí hậu vừa cung cấp nhiều lợi ích khác, tiêu biểu là cung cấp bãi đẻ, nơi cư trú cho các loài thủy sinh có giá trị kinh tế cao.

Tuy nhiên, dự án của Thụy Sỹ kết thúc vào năm 2012 đã vấp phải một số vấn đề. Trước tiên, 5-6% tăng thêm so với giá thị trường là thấp và thường bị trả châm 3-4 tháng, khi tôm đã được xuất khẩu sang châu Âu. Thêm vào đó, việc phân chia phần giá tăng thêm này giữa nhà chế biến, người thu mua và người nuôi không có sự minh bạch. Thứ hai là, cơ sở chế biến chỉ thu mua giá cao loại tôm nhỏ (40 con/kg) mặc dù các loại tôm to hơn (20con/kg hoặc ít hơn) có giá thị trường cao hơn rất nhiều, đơn giản vì nhà nhập khẩu (Coop) chỉ mua tôm nhỏ. Các cỡ tôm to hơn bị bán với giá như tôm không có chứng nhận. Ngoài ra còn có trường hợp người thu mua trộn tôm có và không có chứng nhận để thu lợi bất chính. Kết quả là người dân bắt đầu hoài nghi về lợi ích kinh tế của việc chứng nhận, và số lượng hộ dân tham gia, khởi điểm là 143 hộ trong 2002, đạt cao điểm năm 2006 với 854 hộ và giảm xuống còn 784 trong năm  2009.

Dự án của IUCN và SNV giải quyết các vấn đề đó bằng nhiều cách khác nhau.

Trong tháng 3 năm 2013, SNV đã đàm phán với Minh Phú – công ty chế biến tôm lớn thứ 2 trên thế giới, tính về giá trị xuất khẩu, cam kết mua toàn bộ sản phẩm tôm được chứng nhận (cả lớn lẫn nhỏ) với 10% giá cao hơn giá thị trường (giá hiện tại mua tại hộ dân cho tôm 20con/kg là 300.000VND/kg hay 15USD/kg). Đồng thời Minh Phú sẽ trả toàn bộ chi phí thanh tra hàng năm, chi phí cho hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS) để duy trì chuỗi cung ứng từ hộ nuôi tôm đến nhà máy.

Trong tháng 7 năm 2013, SNV đã tổ chức tập huấn cho 1008 hộ dân nuôi tôm, trong đó 783 hộ dân đã đồng ý đăng ký tham gia dự án. 225 hộ còn lại không đủ điều kiện vì diện tích phủ rừng trong khu vực nuôi tôm của họ không đạt mức tối thiểu.

Đã có 27 nhóm nông dân được thành lập, mỗi nhóm gồm 30-40 thành viên bầu 1 nhóm trưởng.  Để giảm chi phí và tăng cường sự tuân thủ các tiêu chuẩn qua hoạt động tự giám sát, việc chứng nhận sẽ được tiến hành theo nhóm hộ dân hơn là từng hộ cá thể. Vì vậy tỉ lệ che phủ rừng sẽ được tính toán không phải trên từng trại nuôi mà trên cơ sở nhóm hộ dân. Việc tiếp cận trên cơ sở nhóm này dựa trên ý kiến của người dân về việc chất lượng đất, địa hình ở một số trại nuôi có điều kiện tốt hơn để tái sinh rừng.

Để đảm bảo số lượng lớn nhất có thể các hộ dân được cấp chứng nhận, ban đầu dự án sẽ hộ trợ trồng rừng ở 42 trên tổng số 225 hộ có tỷ lệ che phủ rừng gần đạt được tiêu chuẩn. Còn hàng trăm hecta rừng ngập mặn chất lượng thấp cần được phục hồi bằng việc tái trồng và bảo vệ rừng, dự án sẽ đồng tài trợ việc tái trồng rừng này, để 1800 hộ dân còn lại trong khu vực Nhưng Miên cũng có thể đạt chứng nhận.

Theo quy định pháp luật, để được chứng nhận tôm sinh thái, ít nhất 50% diện tích ao nuôi phải được phủ rừng và ao nuôi phải được thanh kiểm tra thường xuyên bởi một tổ chức thứ 3 để đảm bảo tuân thủ các chỉ tiêu chứng nhận. Mỗi năm IMO sẽ thanh tra các hộ dân được chứng nhận, và ICS sẽ chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ tại địa bàn. Việc thanh tra tại địa bàn sẽ được hỗ trợ bởi các đánh giá dựa trên ảnh vệ tinh. Một phân tích ảnh vệ tinh được chụp vào tháng Hai năm 2013 đã chỉ ra rằng tỷ lệ che phủ rừng ngập mặn tại Nhưng Miên đạt 40%, số liệu này rất gần với các báo cáo của Ban quản lý.

Cách tiếp cận này đối với việc bảo tồn rừng ngập mặn, cung cấp trực tiếp cho người dân các hỗ trợ tài chính để trồng và bảo vệ rừng ngập mặn, có một số khác biệt cơ bản với các chương trình Chi trả phí dịch vụ môi trường (PES) khác ở Việt Nam. Các chương trình này nằm dẫn đến Quyết định 99 của Thủ tướng Chính Phủ, được ban hành năm 2010 và thiết lập 1 cơ chế pháp lý cho PES bao gồm “cung cấp bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nước từ rừng trong nuôi tôm”. Quyết định này đã cho phép thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tại trung ương và từng tỉnh, quỹ này sẽ là kênh chi trả Phí dịch vụ môi trường rừng từ người mua cho người bán, và giữ lại 10% tại địa phương như một khoản phí.

Tại Lâm Đồng và Sơn La, nơi chương trình này được áp dụng, việc bảo vệ nguồn nước cho đến nay là quan trọng nhất. Tại Lâm Đồng, 2 người mua chính là nhà máy thủy điện Đa Nhim và Đại Ninh, với phí phải trả là 20VND cho 1 Kwh điện, và nhà máy nước SAWACO tại Thành phố Hồ Chí Minh, phải trả 40VND cho 1 m3 nước cung cấp đến người tiêu dùng. Các chi phí này được trả cho Quỹ bảo vệ phát triển rừng, người chịu trách nhiệm chi trả cho chủ rừng.

Trong năm 2013,  một báo cáo của CIFOR về kinh nghiệm PES tại Việt Nam đã đặt ra một số câu hỏi về sự hiệu quả của phương thức này.

Các lo ngại gồm:

  • Việc thiếu sẵn sàng chi trả của người mua: hầu như người mua tại đây đều là các công ty nhà nước, được chỉ đạo phải chi trả PES, sau đó tính chi phí này lên khách hàng. Tuy vậy, các công trình thủy điện tư nhân đã đàm phán giá bán điện cho EVN – đơn vị độc quyền cung cấp điện, lại không chuyển chi phí này lên khách hàng được, do đó họ từ chối chi trả.
  • Khả năng thiếu tuân thủ vì không có bên giám sát độc lập: việc kiểm tra độ che phủ rừng đều do các đơn vị tự báo cáo, gây nên các hoài nghi về xung đột lợi ích. Mặc dù hiện tại đã có các ảnh vệ tinh chất lượng tốt của khu vực này, nhưng hiện chưa có báo cáo nào về hiện trang thay đổi độ che phủ rừng trong khu vực.
  • Sự hoài nghi về tính bền vững của việc bảo tồn: PES sẽ chi trả cho việc người dân không đốn hạ cây, nhưng khi trên thị trường nảy sinh cơ hội (vd trồng sắn, trồng cà phê), chi phí cơ hội của việc bảo tồn rừng tăng cao, sẽ có lúc phí chi trả cho việc bảo tồn rừng tăng đến mức người mua không trả nổi.

Dự án của IUCN và SNV tại Ngọc Hiển giải quyết các vấn đề này bằng cách:

  • Đối với sự sẵn sàng chi trả: người mua cuối cùng là các khách hàng quốc tế, Minh Phú chỉ là đơn vị trung gian. Minh Phú đã xác định tôm sinh thái được chứng nhận là sản phẩm chiến lược trên các thị trường chính của họ tại Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ. Do vậy sự sẵn lòng trong chi trả được đánh giá cao.
  • Đối với sự tuân thủ việc chi trả, có nhiều lớp giám sát: IMO sẽ thanh tra ngẫu nhiên hàng năm để đảm bảo độ che phủ rừng tối thiểu 50% tại ao tôm; ICS sẽ đảm bảo không có tôm thường lẫn với tôm được chứng nhận trong chuỗi cung cấp; và thanh tra trên thực tế sẽ được hỗ trợ bởi các báo cáo thống kê sử dụng ảnh vệ tinh vào đầu và cuối dự án. Do vậy việc tuân thủ được đánh giá cao.
  • Đối với tính bền vững: Việc chứng nhận tôm sinh thái đòi hỏi chi phí ban đầu lớn cho lập hồ sơ và cơ sở hạ tầng (vd trồng mới rừng và xây dựng toilet hợp vệ sinh). Khi các điều kiện này hoàn tất, chi phí duy trì sẽ rất nhỏ. Giả sử rằng người dân có thể bán toàn bộ tôm của mình (với giá cao hơn hoặc không), đây vẫn là các khuyến khích để người dân duy trì chứng nhận. Tính bền vững do vậy được đánh giá là trung bình, vì sự không ổn định vốn có của nhu cầu thị trường quốc tế.

Vì vậy, việc chứng nhận tôm sinh thái có thể sử dụng để kết nối trực tiếp việc nuôi tôm và bảo vệ rừng ngập mặn. Việc cấp giấy chứng nhận tập trung vào việc định hướng mối quan hệ giữa việc mất rừng và thiệt hại trong sản xuất tôm, hơn là bảo tồn rừng một cách thuần túy. Bằng việc nâng cao giá trị thu được từ mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rừng, với cơ chế dựa vào thị trường kết hợp với việc giám sát chặt chẽ của bên thứ 3, mục tiêu của dự án là làm giảm áp lực đối với rừng ngập mặn một cách lâu dài.

Cho dù các lợi ích lâu dài về kinh tế và môi trường của việc nuôi tôm sinh thái có được nhìn nhận hay không, đã nảy sinh một số trở ngại. Ví dụ như để trở được chứng nhận, người dân phải lắp đặt và sử dung toilet hợp vệ sinh (giá khoảng 4.000.000VND), dự án sẽ đóng góp một phần vào việc lắp đặt này. Tuy nhiên, với sự hộ trợ mạnh mẽ từ chính quyền và doanh nghiệp, có cơ sở để tin dự án sẽ đem lại các lợi ích về kinh tế cũng như môi trường, và vì dự án đã thay đổi một số mô hình kinh doanh cở bản, các kết quả này sẽ được duy trì sau khi dự án kết thúc.

Qua các thảo luận của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các quan chức đều nhận thức được lợi ích tiềm tàng đối với bảo tồn rừng của việc cấp giấy chứng nhận, họ vẫn e ngại trong việc coi đó là một biện pháp Chi trả dịch vụ môi trường rừng thực sự vì nguồn tài chính không được thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (trong khi đó Quyết định 99 không bắt buộc nguồn phí này phải thông qua Quỹ, đây chỉ là một lựa chọn được khuyến khích). Tuy vậy ở Ngọc Hiển, thêm vào việc trả giá cao hơn cho người dân, Minh Phú còn đồng ý trả thêm cho Ban quản lý rừng 1.500 VND với mỗi kg tôm họ thu được. Chi phí này sẽ đóng góp trực tiếp cho công tác quản lý. Thách thức lớn hơn là phương thức này sẽ chuyển vai trò của chính quyền từ vận hành PES sang tạo điều kiện cho PES hoạt động với sự cộng tác của doanh nghiệp và đảm bảo quyền lợi của nông dân sản xuất nhỏ. Việc này thể hiện một sự thay đổi đáng kể và có khả năng khó đạt được, ít nhất là trong ngắn hạn.

Trong tương lai, việc chứng nhận có thể trở thành điều kiện bắt buộc để thâm nhập các thị trường quốc tế, giống như việc EU ban hành quy định vào năm 2012 bắt buộc tất cả các sản phẩm gỗ bán trong EU phải được làm từ gỗ hợp pháp (đạo luật Lacy sửa đổi quy định việc tương tự với sản phẩm gỗ bán tại Mỹ). Tuy nhiên vẫn còn có các tín hiệu lạc quan. Mô hình kinh tế của việc nuôi tôm trong rừng ngập mặn khá mạnh. Nói rộng hơn, Việt Nam đang trải qua một cuộc cách mạng về kinh tế thứ 2 sau cải cách Đổi mới vào những năm 1980. Các mô hình mới nhấn mạnh hiệu quả kinh tế, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, các hàng hóa có giá trị thặng dư cao. Trong khi nhà nước đang hướng tới một nền kinh tế xanh, họ cần có các công cụ, như chứng nhận quốc tế, để thực hiện nó.

Tham khảo:

  • Nghị định 99/2010/ND-CP về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, 2010.
  • Thực trạng của việc nuôi tôm thân thiện với môi trường trên quy mô nhỏ tại Cà Mau, GIZ, tháng 6/2013.
  • Phạm TT, Bennet K, Vu TP, Brunner J, Le ND and Nguyen DT (2013): Chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam, từ chính sách đến thực tiễn. Báo Occasional trang 93. Bogor, Indonesia: CIFOR.
  • Tran Thi Phung Ha, Han van Dijk, and Leontine Visser (2013). Tác động của sự thay đổi trong quản lý rừng ngập mặn đến sinh kế: Nghiên cứu về hệ thống nuôi tôm trong rừng ngập mặn tại Cà Mau, Đồng bằng sông Mekong, Việt Nam. Land Use Policy 36 (2014) 89-101.

 

You are here

Share